Sunday, September 16, 2012

TUYỂN TẬP THƠ CỦA THI SĨ HỒNG KHƯƠNG



     1/    XUÂN NƯƠNG TRƯỞNG QUÂN CƠ
          @()@()@()@()@()@()@()@()@

           Đại-Nan châu rộng thênh thang,
         Núi, đồi thung lũng, dân làng sống vui.
           Chăn tằm, thả lưới, buông chài,
         Đồi cao,lũng thấp,thắm tươi muôn màu.
           Ông HUNG-SÁT là trưởng châu,
         Chăm dân an lạc trước sau vẹn toàn.
           KIM-HOA châu trưởng phu nhân,
         Họ ĐINH, gia thế tiếng gần vang xa.
           Sinh bảy trai khỏe,rộn nhà,
         Khôi ngô, đĩnh đạc toàn gia xiết mừng.
           Đêm hè gió mát,trăng trong,
         Phu-nhân dạo gót phía Đông ngoạn lầu.
           Nô tỳ dăm gái theo sau,
         Truyền đem bánh, rượu, ca hầu, múa vui.
           Gió đưa hoa thoảng thơm mùi,
         Lan, Hồng, Ngâu, Sói, Cúc, Nhài tắm trăng.
           Say men thiêm thiếp mơ màng,
         Thấy em áo đỏ, thoa vàng dỡn chơi.
           Mây hồng Bé cưỡi vui cười,
         Phu-nhân mừng rỡ, tay vời Bé xinh.
           Phải chăng xưa ước mộng lành?
         Được người con gái nay thành trọn mơ !
           Mải theo đuổi bắt Bé thơ,
         giật mình tỉnh giấc đâu ngờ chiêm bao?!


           Mười hai tháng giêng năm sau,
         Bà sinh một gái, khác nào trong mơ !
           Đặt tên con, theo đúng mùa,
         Tiết XUÂN cảnh đẹp nghìn hoa đón chào.
           Tiệc mừng ca múa xôn xao,
         Khách đông tới phủ, mừng, trao tặng quà.

           Nỗi đâu bất hạnh trong nhà,
         Bé XUÂN ba tháng, Bà HOA mãn phần !!!
           Bao đau thương xót vô ngần,
         MẸ đà khuất bóng,em XUÂN biếng cười.
           Suốt ngày đòi nước mía thôi,
         Đầy năm chỉ thích củ mài thay cơm.

           Phần CHA bận nỗi Nước-Non,
         Mưu ngày khôi phục, không còn ngoại xâm.
           Bảy trai lớn mạnh hằng mong,
         Theo cùng THI-SÁCH ĐẶNG công trả thù.
           NƯỚC-NHÀ bao nỗi âu lo,
         Tin Ông HÙNG-SÁT giã từ các con.
           Nhẹ nhàng ông trút linh hồn,
         Ưu tư vầng trán vẫn còn dấu in...

           Lời CHA, con trưởng không quên.
         Nhiêm trao rành rẽ, chức quyền phân minh.
           Võ, văn đôi hướng luyện tinh,
         XUÂN-NƯƠNG là út, các anh chăm rèn.
           
           Tin đến từ huyện Châu-Diên,
         THI-SÁCH, HÙNG-THẮNG, cùng em đang bàn.
           Giặc vào đâm chém dã man,
         Hung hăng lục soát, cướp vàng ngọc theo.
        ... Ôi đau thương đủ mọi điều,
         NƯỚC-NHÀ tan tác ai gieo thảm sầu?!
           Anh em cùng trốn thoát mau,

         Mưu bàn việc lớn cùng nhau báo thù.
           XUÂN-NUO*NG xuống tóc giả tu.
         Đổi tên,thay họ, đến chùa ẩn thân.
           Anh-hào, Nữ-kiệt xa gần,
         Sớm về kết tụ, nghĩa quân một nguyền.
           Mật bàn, mưu lược thâu đêm,
         Đổi trao binh pháp, hậu tiền xuất quân.

           Đáp lời Chủ-Soái NHỊ TRƯNG,
         Toàn dân theo Hịch, hợp cùng khởi binh.
           XUÂN-NƯƠNG bàn với hai anh,
         Nghĩa quân ta đã luyện rành binh thư.
           Quyết tâm khôi phục cơ đồ,
         Về HUƠNG-NHA lễ TẾ CỜ tiến quân.

           HÙNG-HOÀN chẳng kém HÙNG-LONG,
         Võ công tinh nhuệ, tay không bắt thù.
           HÁT-MÔN vang dội tiếng hô,
         Đoàn quân dũng lược dưới cờ LẠC-LONG,
           XUÂN-NƯƠNG trong lớp binh nhung,
         Uy nghi lẫm liệt, nữ hùng trưởng cơ.


           Giặc tan, quang phục cõi bờ,
         Tiệc bày, tước vị phong cho tướng tài.
           NỮ-VƯƠNG ân thưởng mọi người,
         Được về nguyên quán yên vui,thái bình.

           XUÂN-NƯƠNG cùng với hai anh,
         Hành trang về lại quê mình, mến yêu.
         ...Thắp nhang tưởng nhớ bao điều,
         MẸ-CHA khuất núi mai, chiều ngẩn ngơ.
         ...Ngậm ngùi trước ảnh án thờ,
         Năm Anh Trai giỏi bây giờ mãi xa.!.
           Liều thân vì chữ NƯỚC-NHÀ,
         Diệt quân tàn bạo, dân ta thoát xiềng.
        ...Khắp nơi dân sống bình yên,
        Mổ trâu, giết lợn, chống chiêng hát mừng.
          Chúc lời đại thắng Nữ-hùng,
        VUA ban CÔNG-CHÚA ĐÔNG-CUNG ĐỨC TÀI.
          Nét xuân, mày liễu, sắc tươi,
        Khuê phòng đơn chiếc, đợi người tri âm.


          Viên tướng tài ĐẶNG-THI-BẰNG,
        Huyết tâm thu phục vinh quang NƯỚC-NHÀ.
          Mến XUÂN-NƯƠNG tấu HAI BÀ,
        Ước duyên kết tóc, xe tơ, với người.
          Công-Chúa ĐÔNG-CUNG đức tài,
        SƠN-HÀ mộng lớn hai vai chung nguyền.
          Cho bày yến tiệc VUA truyền,
        Vạn lời vàng chúc : TÀI HIỀN ĐẸP ĐÔI.

          Thái bình dân hưởng an vui,
        Ơn VUA, thấm lộc Đất-Trời rưới lan.
       ... Ngờ đâu lù Hán bạo tàn,
       Hỗn quân ào ạt tràn sang cõi bờ.
         Toàn dân lại phen gánh lo,
       VUA TRƯNG truyền Hịch, phất cờ tiến quân.
         Giặc đông người, ngựa rầm rầm,
       Hung hăng đốt phá huyện gần,ấp xa.
         Than ôi ! binh lửa NƯỚC-NHÀ,
       Quên mình, đại nghĩa xông pha chiến trường.
       ... Có tin tướng ĐẶNG-THI-BẰNG,
       Khi vây hãm chết, khi hăng chống thù.
          XUÂN-NƯƠNG biết đã nguy cơ,
       Múa hai tay kiếm hô to phá vòng.
         Thần quan thập bộ thẳng xông,
       Cướp thi thể ĐẶNG-PHI-BẰNG chạy xa.
         Thế tình nao núng quân ta,
       Nghĩa binh tử trận, SƠN-HÀ lâm nguy. ! .
         XUÂN-NƯƠNG máu chảy đầm đìa,
       Bị thương, thai động, người tê mệt nhoài.
         Tinh sương ác chiến kéo dài,
       Gió rừng phủ lạnh, chiều phai, đêm về.
       ...Xót chồng con dạ tái tê,
       Thương quân tử nạn cũng vì NƯỚC-NON.
         Tim đau, lòng quặn, sức mòn,
       Thôi đành nghĩ thác, hận nguyền đem theo.
      ... Truyền quân đến, nhủ đôi điều :
       "Lực ta đã cạn, giặc kiêu binh hùng,
          Đau lòng thâý cảnh NON-SÔNG,
        Giặc gây Quốc biến Gia vong nỗi này ! ! !
          XUÂN-NƯƠNG cho làm cỗ chay,
        Tế cáo Trời-Đất, Rằm ngày tháng Hai.
          Lạy CHA, khấn ANH lệ dài,
        Lễ CHỒNG ruột thắt, ngậm ngùi, xót đau.
          Hẹn rằng ta sẽ gặp nhau,
        Cửu tuyền nhờ nước sông Thao đưa về.

          Mưa nguồn đổ xuống rừng khuya,
        Gió gào, gió lạnh,sương tê buốt lòng.
        ... Trên ngựa, thầm vượt bão giông,
        Đến chùa HUƠNG-NỘN đi vòng trước sau.
          Tiếng mưa giọng oán, giọng sầu,
        Thương ôi! Nữ-kiệt vì đâu nạn này?
          Vềt thương đầy máu chân tay,
        Bụng như dao cắt, động thai đau dồn .
       ... Lê bước mòn đến bờ sông,
       Lạy Trời, lạy Đất, khấn Chồng đón theo.
          Vĩnh biệt trần thế, nhẹ gieo,
       Ơn VUA, nợ NƯỢC xin liều tấm thân...

                 Hè Dalat, 1998
               Trần-Thị-Hồng-Khương

     * Theo tài liệu "THỜI TRƯNG VƯƠNG" của Nguyễn-Khắc-Xương.
            

  ******************************************
              2/  TRẦN-NGỮ-NƯƠNG
                 @)(@)(@)(@)(@)(@
              * Phu-Nhân TRẦN-QUÔC-CHẨN


                Sử lưu bà TRẦN-NGỮ-NƯƠNG,
              
              Phu-Nhân QUỐC-CHẨN thạo đường binh thư.

                Theo chồng ra trận, diệt thù,

              Chỉ huy, giao chiến, giặc thua bỏ hàng !

                 Nửa ngày yên ngựa, gươm vung,

              Quân Chiêm nể phục, anh hùng nữ nhi.

                 Đời TRẦN sử vàg đã ghi,

              Quần thoa dũng lược, kém gì mày râu. !.


                     
          Upper darby, Phila. Mồng một Tết Nhâm-Ngọ,


***************************************************
3/ NHÀ CHÍ SĨ PHAN-CHU-TRINH

(^)(^)(^)(^)(^)(^)(^)(^)(^)

Tây làng Tây-Lộc Quảng-Nam,

Có nhà chí sĩ, cụ PHAN-TÂY-Hồ.

Được cử làm quan, sắc Vua,

Nơi kinh đô HUẾ mộng thơ, dất lành.

Một lòng cải tiến dân sinh,

Từ quan, không nghĩ lợi danh, chức quyền.

Mở mang dân trí dầu tiên,

Phong trào quốc-ngữ,loan truyền muôn dân.

Tóc ngắn, âu phục canh tân,

Công, Thương nghiệp cũng xoay vần mở mang.

Một phần theo cách tây phương,

Văn minh khai hội chủ trương tiến hành.

Tiến qua Nhật-Bản riêng mình,

Đông-du ái quốc, trọn tình hiến dâng.

Trở về tiếp đường quê hương,

Tiến bộ dân trí noi gương thực hành.

Philadelphia, 2007

Trần-Thị-Hồng-Khương
*************************************************************************
4/    NÀNG  QUỲNH NÀNG QUẾ
        (_)(_)(_)(_)(_)(_)(_)



                Làng TRÒ, bên ngạn sông Thao,
              Cảnh cây tươi tốt đón chào ánh mai.
                Dân thưa chiều, sớm buông chài,
              Vang câu hát ví, ca vui thái bình.

                 
                Vợ chông NGUYỄN-ĐẬU hiền lành,
              Sống đời thanh bạch, mái tranh giữa làng.
                Chẳng hề ao ước giàu sang,
              Cầu mong sinh được con ngoan vui nhà .
              ...Hiểu lòng vợ chồng thiết tha,
              Sơn-Thần ứng mộng, trao hoa QUẾ, QUỲnh.


                 Năm sau, người vợ hạ sinh,
               Hai con gái, đẹp dáng hình đóa hoa.
                 Trẻ thơ ca rộn vang nhà,
               Mẹ-Cha yêu quý bao la nặng tình.


                 Lên ba QUỲNH, QUẾ bụ xinh,
               Mười tuổi, hai Bé đã rành ném lao.
                 Dân làng kinh ngạc xiết bao,
               Mừng khen QUỲNH, QUẾ khác nào minh châu. !.
                 Cung tên sớm thạo cùng nhau,         
               Trí lanh tím vết thú sâu trong rừng,
                 Mẹ-Cha rất đỗi vui mừng,
               Tạ ơn Thần Núi tặng bông QUẾ, QUỲNH.
                 Mong hai con đẹp duyên lành,
               Tuổi già vui mái lều tranh sớm chiều.


                 Giặc tràn thống khổ đang gieo,
                Lũ tham bóc lột, dân nghèo oán than.!.
                 Nộp tắc kè, lại quế, trâm,
                Nhung, hươu, gạo nếp, mật ong, gỗ rứng.
                  Lệnh tên Tô-Định xuống làng,
                Truyền đưa Quỳnh, Quế hai nàng lên dinh.
                  Dân, cùng Cha-Mẹ bất bình,
                Oán thù giặc Hán gian manh, bạo tàn.
                  Lập mưu QUỲNH, QUẾ vào hang,
                Rừng sâu, lẩn tránh bày lang sói này.
                ...Hai Nàng khẳng khái thưa ngay,
                Quan, quân giặc Hán tới đây ngại gì?
                   Chúng con bắt cọp thường khi,
                Chờ xem bọn chúng, trò gì dở ra !
                  Diệt trừ lũ giặc tinh ma,
                Để cho chúng biết dân ta oai hùng !


                 Một bày giặc phá bạo hung,
               Nghênh ngang gươm giáo săn lùng trước, sau.
                 Dân làng khua mõ gọi nhau,
               Gương cung, huớng nỏ vào đầu lũ tham.
                 Chúng đâu ngờ, bị đánh tan,
               Tả tơi binh khí, ngổn ngang xác chồng.


                 Được tin, hồ hởi NHỊ TRƯNG,
               Vời hai nữ kiệt, đem quân hội cùng.
                 Hát-Môn khí thế hào hùng,
               Nghĩa quân toàn cõi, đuổi hung nô về.


                 Thanh bình lan tận sơn khê
               Muôn dân hạnh phúc, mọi bề an vui.
                 VUA TRƯNG khen thưởng mọi,
               Cấp cho đất ruộng về nơi quê mình.
                 Chị em nàng QUẾ nàng Quỳnh,
               Được phong Công Chúa lừng danh nữ tài.


                   Dalat, Hè 1988

                   Trân-Chinh-Nương
                   
                * Trong tập Trường Thiên Liệt Nữ Ca-TTHK.

    * Theo tài liệu THỜI TRƯNG VƯƠNG của Nguyễn-Khắc-Xương.
  
*********************************************************************
       
      
         5/        Ỷ LAN  PHU  NHÂN
                 (@)(@)(@)(@)(@)(@)

               Quê Siêu-Loại,tỉnh Bắc-Ninh.


                Có người thiếu nữ Bắc-Ninh,
              Đoan trang, kiều diễm, dáng hình tiên nga.

                Hái dâu chăm chỉ việc nhà,
              Ngờ đâu buổi nọ VUA qua làng mình.

                Bởi NGÀI chưa một lần sinh,
              Rắp tâm cầu tự, du hành nơi nơi.

                Thấy nàng thôn nữ không rời,
              Hái dâu, tay lạ thúng vơi chóng đầy.

                Đức vua xem, lạ lùng thay !
              Lệnh truyền xa gía, đẹp ngày tiến cung.

              ...Nhà Vua yêu quý một lòng,
              Rõ ràng thục nữ, thông minh lạ thường !

                Bà sinh Hoàng-Tử được phong,
              Nguyên-Phi danh hiệu, tưng bừng tiệc hoa.

                 CÀN-ĐỨC sẽ tiếp Vua Cha,
              Nối ngôi Thiên-Tử, sơn hà thịnh hưng !

              ...Gặp kỳ Chiêm-Thành nhiễu nhương,
              Đức Vua yên ngựa, sa trường dấn thân.

                 Nguyên-Phi tài trị quốc dân,
               Nhà Vua hiểu được, muôn phần vững tâm.

                 Thân chinh quyết chiến hai lần,
               Chiêm-Thành bại trận, phải dâng đất mình.

                 Đại-Lý, Bố-Chính, Ma-Linh,
               Ba châu từ đấy trở thành đất NAM.

                 Ơn NGƯỜI mở rộng giang san,
               Cháu con dân VIỆT muôn vàn khắc ghi...

                      UPPER-Darby Phila. 10-02-2002
                       Trần-Chinh-Nương

             * trích tập TRƯỜNG THIÊN LIỆT NỮ của TTHK.


            * Siêu-Loại xưa là Thổ-lôi.
            * Ba châu nay thuộc Quảng-Bình và Quảng-Trị.
            * Theo tài liệu ANH THƯ NƯỚC VIỆT của Phương-Lan.

   

No comments:

Post a Comment